Song đệ ta tính toán kỹ càng, một khoản bạc lớn chi một lần, nào sánh được với bạc đều đặn, dài lâu đến trọn kiếp?
Vậy nên, hắn quyết định kiên trì hao tổn, không vội buông tay.
Hai năm giằng co, tình cảm của Tuấn Diễn dành cho Gia Thụ chẳng những không phai nhạt, trái lại càng sâu sắc.
Hai vị lão nhân đành chấp thuận để hai người đồng cư.
Bọn họ nghĩ: “Gần gũi hằng ngày, ắt sinh lắm cãi vã. Để hai đứa ra ở riêng, kiểu gì cũng chán nhau.”
Nào ngờ, người được sai đi do thám trở về, nói cũng chẳng nên lời.
Hai kẻ ấy sống với nhau chẳng khác gì vợ chồng hòa thuận, yêu đương đến mức khiến người nghe phải thẹn đỏ mặt.
Ban ngày hay đêm tối, trong phòng luôn vang lên tiếng la hét kỳ dị, khiến người khác không dám lại gần.
Tưởng hai người vì chuyện cơm áo gạo tiền mà cãi cọ, ai ngờ nhị công tử quý tộc kia chẳng để Thẩm Gia Thụ đụng tay vào việc gì.
Chàng đường đường là công tử quan gia, giặt cả yếm lót cho người kia mà vui như Tết.
Gạo nếp gạo tẻ phân biệt chẳng rành, vậy mà tự mình lo ba bữa cơm mỗi ngày, tâm trạng lại vô cùng ổn định.
Nghe xong chuyện này, lão gia và phu nhân lặng thinh như câm.
Rốt cuộc — bọn họ thua rồi.
Họ không phải là những bậc cha mẹ cay nghiệt, cũng biết đau lòng cho con.
Vậy nên, họ buông bỏ cố chấp, chấp nhận Thẩm Gia Thụ.
Ngày hôm ấy, họ gọi con trai và con… dâu về phủ.
Cùng nhau bàn chuyện, tổ chức một lễ thành thân đơn giản mà ấm cúng.
“Làm cha mẹ, nếu chẳng ngăn được các ngươi, thì chỉ còn biết ban lời chúc phúc.
Nếu tình cảm thật lòng, thì cha mẹ này… cũng chẳng cần bận tâm thế tục làm gì.
Chỉ mong các ngươi — sống yên, sống tốt.”
Bạch Tuấn Diễn và Thẩm Gia Thụ tay trong tay, quỳ xuống trước mặt hai lão, miệng gọi:
“Cha… mẹ…”
Ít nhất, trong khoảnh khắc ấy, Thẩm Gia Thụ là thật lòng.
Không toan tính, không nghĩ bạc, chỉ là — tâm nhận một đôi thân sinh cha mẹ.
Từ đó, hai lão nhân cũng cởi bỏ vướng bận trong lòng, mà lòng bỗng thanh thản như nước mùa thu.
Lòng thoáng đãng quá mức, rốt cuộc cũng buông tay nhân thế, thanh thản mà từ biệt cõi đời.
Khi ta cùng Bạch Vân Lang trở về phủ, lão gia cùng phu nhân đã quy tiên, tro tàn tro lạnh, chôn nơi đất sạch.
Chàng đưa ta lên mộ, dập đầu trước phần mộ song thân, nói rằng: “Cha mẹ nơi chín suối có thể an lòng rồi. Tường An đã mang thai, nhà họ Bạch đã có người nối dõi.”
11
Bạch Vân Lang, người từng phát nguyện trọn đời không cưới, cuối cùng vẫn là người kế thừa hương hỏa cho nhà họ Bạch.
Ta — từ đầu đến cuối — chưa từng đề cập đến chiếc đồng tâm khóa kia, cũng chẳng hỏi han nửa lời về nữ tử đã khắc ghi trên đó.
Một là, nếu chàng trong lòng có người khác, ta cũng chẳng quá để tâm.
Hai là, người kia đã khuất, ta hà tất phải tranh giành với một hồn phách đã tiêu tan.
Dưới sự chăm sóc chu đáo của mẫu thân, ta bình an sinh hạ một nhi tử khỏe mạnh, nặng sáu cân sáu lạng.
Hai năm sau, lại sinh được một ái nữ lanh lợi đáng yêu.
Khi đã con trai, con gái đủ đầy, trong lòng ta dành cho Bạch Vân Lang cũng dần ít đi phần nào.
Có lúc, chàng buông sách xuống, giả vờ nghiêm nghị nói với ta:
“Phu nhân, ta muốn nạp thiếp.”
Ta trầm ngâm giây lát, bắt đầu tính toán nên sắp xếp tiểu thiếp ấy ở đâu cho hợp lý.
Chàng thấy ta im lặng, cứ tưởng ta đang ghen, liền nhào tới ôm chầm lấy ta.
“Phu nhân, ta nói đùa thôi.
Nam nhân họ Bạch chúng ta xưa nay chỉ cưới một thê, không cưới ba bốn vợ!”
Chàng nói cũng chẳng sai.
Lão gia năm xưa chỉ có một phu nhân duy nhất, thủy chung như nhất.
Sau khi mãn tang, Bạch Tuấn Diễn nhất định tổ chức một lễ thành thân nhỏ, đơn sơ mà đầm ấm, cho hắn và Thẩm Gia Thụ.
Suốt mấy năm ta chưởng quản phủ Bạch, Bạch Vân Lang chưa từng khiến ta nghi ngờ một lần nào.
Kẻ hầu thân cận bên chàng đều đã bị ta âm thầm mua chuộc.
Theo lời họ kể, chàng dù vì quan vụ mà phải ứng phó yến tiệc, cũng chưa từng gần nữ sắc.
Khi các đồng liêu trêu chàng ngây ngô không biết phong tình, chàng chỉ mỉm cười, đẩy chén rượu từ tay kỹ nữ, thản nhiên nói: “Thê tử ta vẫn đang chờ ở nhà.”
Có một lần, đệ đệ ta hỏi: “Tỷ à, nay ngay cả đệ cũng mơ hồ không rõ, mấy năm nay, tỷ với tỷ phu rốt cuộc có thật lòng với nhau chăng? Cái gọi là ‘tiên hôn hậu ái’, có phần chậm rãi quá rồi đó.”
Ta liền dùng quạt tròn gõ vào trán hắn:“Những lời hoa mỹ tầm bậy đó, bớt đọc mấy quyển truyện tình cảm đi.”
Nhưng…
Trong lòng ta, cũng từng tự hỏi câu ấy.
Và kết luận là: Trong ái sự với Bạch Vân Lang, ta rất thoải mái.
Chàng luôn biến hóa cách thức khiến ta mãn nguyện.
Bất kể là tư thế hay lực đạo, tiền hí hay độ dài, ta đều cảm thấy được yêu chiều.
Những khi ấy, ta thường ôm lấy chàng, hôn khẽ lên ngực chàng, nhỏ giọng nũng nịu:
“Phu quân, vi thê rất hoan hỉ.”
Song ta chưa từng nói câu “ta yêu chàng”.
Và chàng — cũng chưa từng nói với ta câu ấy.
Sau mỗi cuộc ân ái, chàng thường thì thầm: “Tường An, nàng có yêu ta không?”
Ta liền hỏi lại: “Vậy chàng thì sao? Yêu ta chăng?”
Chàng trừng mắt giả giận: “Nàng phải nói trước! Nói yêu ta trước đã!”
Ta cười khẽ, nằm vắt ngang lên người chàng như một con mèo lười: “Ta yêu hay không, chẳng lẽ phu quân không rõ ư…”
12
Thấm thoát thêm mười năm, Bạch Vân Lang tái phát cố tật, ngã bệnh nặng, thuốc thang vô hiệu, chỉ có thể nhắm mắt chờ thời.
Ta luôn túc trực bên giường bệnh. Chàng ho ra máu, thân thể tiều tụy, khí lực như tơ.
Ngắt quãng, chàng hỏi: “Tường An… Nay ta sắp đi rồi… nàng có thể… nói cho ta biết… nàng… có từng yêu ta chăng?”
Ta trầm mặc: “Với chàng… chuyện đó, quan trọng đến thế sao?”
Chàng nhìn ta trân trối, ánh mắt như đứa trẻ lạc mất đường về: “Quan trọng.”
Ta thở dài: “Từng yêu.”
“Từng yêu? Chứ chẳng phải… vẫn luôn yêu sao?”
Ta khẽ gật đầu: “Chàng đã thế này rồi, ta chẳng muốn nói dối để an ủi.”
“Ta từng yêu chàng… trong vài khoảnh khắc.”
“Chẳng hạn, khi chàng ngồi bên cửa sổ đọc sách, ánh trúc ngoài song rọi lên người chàng.
Lúc ấy, chàng đang ngâm nga: ‘Rừng sâu thấy hươu, trưa vắng chuông chùa, không ai hay chốn đến, tựa bóng tùng già…’”
Bình luận